Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

TINH THẦN THƯỢNG VÕ VIỆT NAM


Kinh dịch, Âm Dương, Ngũ Hành… những hệ thống thuộc Minh Nho được đúc kết từ nền Văn minh lúa nước, chúng ta đã biết sơ lược qua các kỳ trước. Thế các bạn có nhận ra sự quen thuộc và gần gũi trong những tri thức đã khám phá được không nè? Thực ra, trong từng hơi thở, từng hoạt động của người Á Đông đều có sự hiện hữu của những tri thức này, chỉ có điều là dường như không ai nhận ra sự tồn tại ấy. Quả thật khó ai có thể hiểu hết được những tri thức này, bởi đó là cả một kho tàng minh triết siêu việt của Đông phương. Nghe thì có vẻ quá cao siêu, nhưng thật ra nó rất gần gũi trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người chúng ta mà ai cũng có thể cảm nhận được.

5 thuộc tính của Ngũ Hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, điều này có lẽ không xa lạ gì với nhiều bạn. Chắc chắn các bạn cũng biết cây xanh hay gỗ nói chung thuộc hành Mộc. Và hẳn bạn nào cũng biết vai trò của cây xanh trên trái đất là hấp thụ khí Cacbonic và nhả Oxy. Chính nhờ có cây xanh lọc độc mà con người và vạn vật được nuôi dưỡng trong môi trường trong lành. Không chỉ cây xanh thuộc hành Mộc, mà trong cơ thể chúng ta có một bộ phận cũng thuộc hành Mộc đấy. Đố các bạn biết đó là gì nè? Bật mí luôn với các bạn, chính là Gan của chúng ta đó. Bạn không tin à? Này nhé, Gan có chức năng lọc độc cho cơ thể. Những người uống rượu bia nhiều, hút thuốc lá hoặc ăn uống những loại thực phẩm có lẫn nhiều chất độc hại thì gan sẽ lâm bệnh vì làm việc quá sức trong quá trình lọc độc. Nhân dịp bàn đến vấn đề gan, mách nhỏ bạn cách ‘bắt bệnh’ cho gan của mình nè. Nếu bạn thấy khó ngủ, mắt kém (cận thị), dễ nóng giận… thì bạn nên điều chỉnh lại lịch làm việc, học hành, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi của mình, hoặc đến bác sĩ để bác ấy chẩn bệnh cho gan nhé.

Tìm hiểu về cây xanh xung quanh chúng ta, chắc chắn các bạn sẽ hiểu rõ hơn về tính Mộc. Các bạn biết không, thuộc tính của Mộc là “cong để thẳng” đại diện cho sự thuần phác, màu xanh, có vị chua, và thuộc hướng Đông. “Cong để thẳng”, có thật thế không nhỉ? Bạn cứ thử bẻ cong một cây tre xem nào. Dù bạn có bẻ cong cỡ nào, khi buông tay ra nó cũng sẽ trở về hình dáng ban đầu. Thậm chí khi bị chặt ngang, gốc của nó cũng có thể sống và tiếp tục đâm chồi nảy lộc. Không chỉ có cây tre không đâu, còn có cây lúa, cây lau… Bạn thử để ý xem khi có một cơn gió mạnh đi qua, chúng có bị gãy hay chỉ ngã rạp rồi vươn mình đứng dậy? Chắc chắn là cơn gió có mạnh cỡ nào cũng không quật ngã được cây lau, cây lúa. Có thể nói thuộc tính này giống như đức tính NHẪN của con người. Dẫu hoàn cảnh gian khổ, người có tính nhẫn vẫn kiên trì chịu đựng và cố gắng học tập, rèn luyện. Và tất nhiên mọi khó khăn sẽ qua đi và người đó ắt sẽ thực hiện được hoài bão của mình vào một ngày không xa.

TINH THẦN THƯỢNG VÕ VIỆT NAM
Các bạn đang thắc mắc tại sao kỳ này Ban biên tập lại đề cập đến chủ đề Mộc. Thực ra thì Mộc chính là một thuộc tính hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt mình. Chính nhờ bản sắc ấy, hàng ngàn năm qua, dân tộc ta không bị khuất phục và đồng hóa bởi những kẻ địch ngoại xâm hung bạo.

Trên báo Tuổi Trẻ, Tôn Sư Chưởng môn Môn phái võ dân tộc Nam Huỳnh Đạo có phát biểu như sau:
“Việt Nam là một nước nông nghiệp, người dân sống định cư trên những cánh đồng trồng lúa nước, tính cách hiền hòa, dân tục thuần phác, ai cũng mong muốn cảnh thanh bình để yên ổn làm ăn. Nói theo các nhà khoa học, dân tộc ta thuộc nền văn hóa có xu hướng trọng tĩnh. Thế nhưng do khung cảnh địa lý phải giao lưu và đối mặt với các nền văn hóa lớn, lịch sử của Việt Nam là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm triền miên. Người Việt Nam kiên trì, giỏi chịu đựng, tinh thông võ nghệ là vì lẽ tồn vong ấy. Lịch sử và núi sông đã hun đúc nên TINH THẦN THƯỢNG VÕ và đó là “đại khí” của dân tộc. Ông cha ta đã đánh thắng kẻ thù xâm lược, bắt sống tù binh không giết, lại “trải thảm” thả về. Không phải ta sợ kẻ địch lớn, sợ nạn binh đao, mà chính vì ĐỨC HIẾU SINH là một phẩm chất lớn của TINH THẦN THƯỢNG VÕ. Hiểu được lẽ ấy mới biết được khí chất của người Việt Nam.

Thật vậy, bản sắc của người Việt Nam là tinh thần thượng võ. Ban biên tập lấy một thí dụ điển hình để giải thích rõ hơn về sự đúc kết này. Sự tích Thánh Gióng chắc hẳn bạn nào cũng rõ. Câu chuyện đó thực chất là bài học về tinh thần thượng võ trong công cuộc chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Trong tích truyện có 3 chi tiết đặc biệt: thứ nhất là chuyện bà mẹ thụ thai và sinh ra Gióng một cách kỳ lạ; chi tiết thứ hai là dân chúng khắp vùng góp gạo thổi cơm, Thánh Gióng ăn bao nhiêu cũng hết và vươn vai trở thành chàng trai to lớn phi thường; và chi tiết sau cùng là sau khi có được ngựa sắt, giáp sắt, roi sắt của triều đình, Thánh Gióng dẫn quân đi dẹp giặc, đánh đâu thắng đó nhưng roi sắt đã bị gãy, và Thánh Gióng bèn nhổ bụi tre bên đường để đánh đuổi giặc.

Có thể giải thích ý nghĩa của những tình tiết đó rằng, đất nước chúng ta luôn được phò trợ bởi “đại khí” của dân tộc. Kế đến, cho dù Thánh Gióng là người nhà trời có sức mạnh phi thường cũng phải cần đến sức dân. Sau cùng, ông cha ta muốn nhắn gửi đó là roi sắt tuy cứng, chắc và công dụng vô biên cũng gãy, phải nhờ đến lũy tre (tính Mộc) rất mềm dẻo nhưng có sức mạnh phi thường. Đây cũng là những đúc kết mang tính nguyên lý giữ nước trong BINH PHÁP của nước Việt ta từ bao đời nay. Phải luôn nuôi dưỡng SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN và vận dụng CHIẾN THUẬT MỀM DẺO LINH HOẠT, chúng ta có thể chiến thắng được tất cả mọi kẻ thù. Một triết lý “rất nông nghiệp” của Việt Nam nhưng luôn đúng trong công cuộc giữ nước hơn 4.000 năm qua.

Những triết lý sâu xa của nền Văn minh lúa nước nghe thì có vẻ quá cao siêu, nhưng thực chất lại rất gần gũi với con người Việt Nam. Tinh thần thượng võ mà chúng ta vừa tìm hiểu qua là mở đầu cho loạt bài tìm hiểu về võ học dân tộc. Những thông tin vô cùng lý thú, chắc chắn các bạn sẽ không ngờ rằng người Việt mình có nguyên một kho tàng võ thuật kỳ bí do chính người Việt sáng tạo và của riêng người Việt. Các bạn hãy đón đọc, đừng bỏ qua nhé!
Ban biên tập.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

THI KIẾN THỨC SỬ VIỆT - AHLN TẬP 3


Chò em naëng moät lôøi nguyeàn
Phaát côø nöông töû thay quyeàn töôùng quaân
Ngaøn Taây noåi aùng phong traàn
AÀm aàm binh maõ tieán gaàn Long Bieân
Hoàng quaàn nheï böôùc chinh yeân
Ñuoåi ngay Toâ Ñònh deïp yeân bieân thaønh
Ñoâ kyø ñoùng coõi Meâ Linh
Lónh Nam rieâng moät trieàu ñình nöôùc ta

Caâu hoûi: Ñoaïn thô treân noùi veà Cuoäc khôûi nghóa cuûa ai? Nöôùc ta luùc ñoù teân goïi laø gì, kinh ñoâ ôû ñaâu?
Traû lôøi:
1.     Choïn moät trong hai ñaùp aùn sau:
a.     Khôûi nghóa Baø Trieäu, nöôùc Lónh Nam, kinh ñoâ Meâ Linh.
b.     Khôûi nghóa Hai Baø Tröng, nöôùc Lónh Nam, kinh ñoâ Meâ Linh.
2.     Haõy döï ñoaùn coù bao nhieâu caâu traû lôøi ñuùng?

Phaàn thöôûng cho baïn ñoïc traû lôøi gaàn ñuùng nhaát laø 300.000ñoàng.
Ghi chuù: Thö döï thi chuyeân muïc Thi kieán thöùc söû Vieät trong AHLN taäp 3 gôûi veà tröôùc ngaøy 15/12/2011. Lôøi giaûi vaø phaàn thöôûng seõ ñöôïc coâng boá ôû taäp 5.

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011

VĂN HÓA NÔNG NGHIỆP - VĂN MINH LÚA NƯỚC



Chắc hẳn các bạn ai cũng biết nước ta là một đất nước của nền văn hóa nông nghiệp. Thế các bạn có biết thành tựu rực rỡ nhất của NỀN VĂN HÓA NÔNG NGHIỆP là gì không? Đó chính là VĂN MINH LÚA NƯỚC đấy các bạn. Theo những nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học khảo cổ trên thế giới, VĂN MINH LÚA NƯỚC là nền văn minh lâu đời nhất đó. Cách đây khoảng hơn 10.000 năm, nền văn minh này đã xuất hiện ở vùng lưu vực sông Dương Tử (hay còn gọi là sông Trường Giang ở Trung Quốc hiện nay) trải dài xuống Đông Nam Á (tức lãnh thổ Bách Việt). Ông cha ta ngày xưa rất đáng khâm phục! Bởi ở nền VĂN MINH LÚA NƯỚC từ cách đây rất lâu, không có sự hỗ trợ của công nghệ, khoa học, ông cha ta đã đạt đến một trình độ cao về kỹ thuật canh tác lúa nước, thủy lợi, phát triển các công cụ lao động, vật nuôi, và cách tính thời gian vụ mùa (tức lịch số).
Không chỉ thế, để vun trồng và bảo vệ thành quả lao động, ông cha ta đã tìm hiểu về quy luật tự nhiên, các mối quan hệ giữa vũ trụ, vạn vật, và con người, và đúc kết chúng thành hệ thống những nguyên lý. Chẳng thế mà ông cha ta có câu “Trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm”. Lời dạy của ông cha ta ngày xưa dù trong thời nào vẫn đúng với một đất nước chủ yếu là nông nghiệp.

Cách tổng hợp, đúc kết đó chính là nền tảng để phát triển TƯ DUY TRIẾT LÝ CỦA NGƯỜI Á ĐÔNG – TƯ DUY TỔNG HỢP. Và những tiến bộ của nền văn minh lúa nước chính là cái nôi hình thành nên cộng đồng cư dân có lối sống định canh định cư, và các giá trị văn hóa làng xã còn tồn tại đến ngày nay. Đồng thời, đây chính là tiền đề cho sự ra đời của VĂN HÓA ĐÔNG SƠN, VĂN HÓA HÒA BÌNH…

Hệ thống những nguyên lý mà ông cha ta đúc kết được từ những quy luật tự nhiên chính là MINH NHO, người Việt Cổ gọi là VĂN HÓA HỒNG PHẠM hay VĂN HÓA VĂN LANG. Những nguyên lý THÁI NHẤT, ÂM DƯƠNG, CƯƠNG NHU, TAM TÀI, NGŨ HÀNH… đều thuộc hệ thống tư tưởng minh triết của NHO gốc đầu này.

Các bạn đã bắt đầu rối lên với những thông tin về nền văn minh lúa nước chưa nè? Có lẽ thông tin hơi khô khan, khó hiểu, nhưng các bạn đừng bỏ cuộc, bởi những bật mí sau đây sẽ cho các bạn những khám phá mới mẻ khá lý thú đấy.

Tại sao Ban biên tập lại đề cập đến nguyên lý ÂM DƯƠNG của MINH NHO ở đây nhỉ? Này nhé, nguyên lý ÂM DƯƠNG gắn kết rất mật thiết với NỀN VĂN MINH LÚA NƯỚC CỦA NƯỚC TA. Nói một cách cụ thể thì cây lúa nước hấp thụ đồng thời hai thuộc tính Âm – Dương là Thủy – Hỏa. Nửa thân trên của cây lúa hấp thụ Hỏa từ mặt trời, nửa thân dưới ngâm mình trong nước tức là hấp thụ Thủy. Hạt lúa là sự kết tinh đầy tinh hoa giữa Thủy – Hỏa, đã nuôi sống con người Á Đông hàng ngàn năm qua. Cây lúa mang tính mộc là đại diện cho sự thuần phác, hiền hậu, lành tính, nên con người chúng ta sinh ra ai cũng mang tính thiện.

Thêm một thông tin chứng minh nguyên lý ÂM DƯƠNG của MINH NHO có liên quan mật thiết với nền văn minh lúa nước cũng cực kỳ lý thú. Chắc hẳn các bạn ai cũng biết người Việt tôn thờ biểu hiệu Rồng và Chim như một sự ngưỡng vọng, thể hiện tính khai phóng, vượt thoát (chữ VIỆT có nghĩa là VƯỢT THẮNG đó các bạn). Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử vua Lạc Long Quân là loài Rồng (đại diện cho Hỏa) lấy công chúa Âu Cơ (Tiên) thuộc loài chim (Thủy) đẻ ra một bọc trăm trứng (nên ĐỒNG BÀO = chung một bào thai; TỔ QUỐC (tổ chim) là xuất phát từ sự tích hình thành đất nước và dân tộc Việt). Sau đó, 50 con theo Âu Cơ lên núi (Thủy ở nơi dương), 50 con theo Long Quân xuống biển (Hỏa ở nơi âm). Phải chăng tổ tiên chúng ta đề cập đến nguyên lý ÂM DƯƠNG tương hỗ khắng khít nhau một cách tinh tế? Cũng chính từ gốc văn hóa này mà người Việt chúng ta về sau thường dùng những cặp từ ngữ sóng đôi mang hai thuộc tính âm dương như: sơn hà, xã tắc, nước non, sông núi, trời đất, vuông tròn…

Những tri thức đầu tiên về nền Văn minh lúa nước quả thật rất lý thú phải không các bạn? Mỗi kỳ, chúng ta sẽ từ từ khám phá những điều lý thú của Việt Sử Ca. Các bạn đừng bỏ lỡ nhé!
Thân chào,

TÌM HIỂU CỘI NGUỒN VĂN HÓA DÂN TỘC

Các bạn độc giả trẻ có biết NHO GIÁO là gì không nhỉ?

Đời sống tinh thần của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng đều ảnh hưởng bởi NHO GIÁO. Nho giáo không phải là một đạo giáo hay giáo phái mà là một sự đúc kết tư tưởng triết lý của nền VĂN HÓA NÔNG NGHIỆP. Người xưa gọi NHO là NHU tức “nhu yếu thâm sâu”, nghĩa là những nguyên lý căn nền phục vụ cho nhu cầu đời sống thực tiễn của con người như đói cần ăn, khát cần uống, lạnh cần mặc ấm, và ai cũng cần sự chia sẻ, quan tâm, chăm sóc… Người nào đáp ứng được tốt những nhu cầu này là thực hiện được đạo NHO! (người xưa thường dùng chữ ĐẠO, ý nói: đạo lý, chân lý). Nho chính là một nền tảng cốt lõi của Văn hóa dân tộc Việt vì hầu hết văn minh, thư tịch cổ điều được viết bằng ngôn ngữ và tinh thần của NHO GIÁO minh triết này.

Đến đời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử người nước Lỗ (lúc bấy giờ Trung Quốc chưa hình thành) đã có công tổng hợp những nền tảng tư tưởng Nho giáo thành một hệ thống thư tịch (văn bản, viết thành sách) rõ ràng để giáo huấn con người tuân theo những chân lý đúng ấy. Đó là TỨ THƯ, NGŨ KINH. Ông còn nói rõ “thuật nhi bất tác” tức là ông chỉ viết lại, thuật lại chứ không sáng tác. Vì mức độ tác động đến toàn diện đời sống của con người (tinh thần và thể xác), rõ ràng công lao ấy quá to lớn nên người đời sau (các nước Á Đông) gọi ông là “Vạn thế sư biểu”, tức người thầy của muôn đời.

Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất bảy nước và lấn xuống cả vùng đất phương Nam rộng lớn, ông đã rất tàn bạo và ra lệnh “đốt sách chôn Nho” (đốt hết thư tịch, giết những người đang theo học Nho giáo) nhằm tiêu diệt hết những giá trị văn hóa của các dân tộc khác, vì ông cho rằng còn văn hóa, còn chữ viết là dân còn đấu tranh giành quyền tự chủ. Chữ China có nguồn gốc từ đời này, vì China là phiên âm của chữ Tsin (Tần). Sau này, nước Việt ta vào thời nhà Hồ (1400-1407) cũng bị nhà Minh lấy đi hoặc tiêu hủy hết những giá trị di sản về vật chất lẫn tinh thần của người Việt, bắt hết những người tài, thợ giỏi đưa sang Trung Quốc (Hồ Nguyên Trừng - ông tổ đúc súng thần công Việt Nam, Nguyễn An - tổng công trình sư xây dựng thành Bắc Kinh,…).

Có lẽ vì tổ tiên người Lạc Việt ta (thuộc Bách Việt ở phía nam sông Dương Tử và núi Ngũ Lĩnh) đã biết trước có những biến cố (bị phá hủy) như vậy nên đã khéo léo chuyển những giá trị văn hóa đó vào trong những truyền thuyết, chuyện kể dân gian, truyền miệng hay những di vật (trống đồng) để người đời sau dù không còn thư tịch cũng có thể nhận ra. Chúng ta hãy thử tìm hiểu nhé!

Tìm hiểu Nho là tìm hiểu những khái niệm như Kinh Dịch, Âm Dương (thủy hỏa), Cương Nhu, Ngũ Hành… Bây giờ ta thử đọc lại truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân xem có phát hiện gì mới không:
Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương. Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh bọc trăm trứng), là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là Nam Hải) phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Ban biên tập mong nhận được phản hồi của các bạn (bài viết hay về các chủ đề tương tự như trên sẽ được tính vào phần dự thi của CLB Việt Sử Ca),
Thân chào,

NGƯỜI KHỔNG LỒ VĂN HÓA DÂN TỘC

Chào các bạn,

Sau một tháng ra mắt bạn đọc ANH HÙNG LĨNH NAM tập 1, Ban biên tập đã nhận được rất nhiều phản hồi từ các bạn. Bên cạnh những nhận xét góp ý, còn có rất nhiều lời khen của các bạn dành cho bộ truyện ANH HÙNG LĨNH NAM. Có thể nói đây là dấu hiệu cho thấy rất nhiều bạn đang mong chờ và luôn luôn ủng hộ truyện tranh Việt. Và sự đóng góp ý kiến của các bạn chính là động lực giúp ANH HÙNG LĨNH NAM ngày càng mạnh mẽ hơn, chất lượng và hấp dẫn hơn.
Ban biên tập mong rằng các bạn sẽ yêu thích và luôn song hành cùng ANH HÙNG LĨNH NAM.  Kỳ này, Ban biên tập chính thức khởi động Câu lạc bộ Việt Sử Ca bằng những thông tin cực kỳ lý thú. Hy vọng các bạn sẽ luôn ủng hộ ANH HÙNG LĨNH NAM và Câu lạc bộ Việt Sử Ca. Nào, chúng ta cùng khám phá thôi!

ĐỨNG TRÊN VAI NGƯỜI KHỔNG LỒ

Có bao giờ các bạn thấy mình thật to lớn, giống như người khổng lồ so với những con vật nhỏ xíu như con kiến, nhưng khi đứng trước đại dương hay một ngọn núi hùng vĩ, bạn chợt nhận ra mình vô cùng nhỏ bé. Chắc hẳn các bạn ai cũng một lần thoáng qua suy nghĩ như thế, đúng không nào?
Con người chúng ta nhỏ bé lắm các bạn àh. Này nhé, hãy nhìn trái đất, nơi chúng ta đang ở mà xem. Trái đất to lớn làm sao, nó có thể chứa gần 7 tỉ người (Woa! Con số không hề nhỏ!!) và hàng ngàn, hàng vạn thành phố. Nhưng so với các thiên hà khác trong vũ trụ, trái đất cũng nhỏ bé lắm đấy.
Lối học “CHU TRI” siêu việt ngày xưa của ông bà ta, các bạn có biết không nhỉ? Có thể tạm hiểu thế này. Chu là tròn, tri là biết (chu tri tức sự hiểu biết tròn đầy). Sự tích “bánh chưng bánh giầy” hay câu chúc “mẹ tròn con vuông” xuất phát từ văn hóa “CHU TRI” này đấy các bạn. Tròn (bánh giầy) đại diện cho chữ tình, Vuông (bánh chưng) đại diện cho lý, ý nói người mẹ phải dũng cảm, nghị lực can trường để đủ sức nuôi nấng, bảo bọc cho con; và người con phải nhanh chóng trưởng thành để gặt hái những thành tựu của cuộc đời. Tròn ở đây cũng có thể hiểu là tư duy tổng hợp của người Á Đông chúng ta.
Sự so sánh nhỏ - lớn, lối học “CHU TRI” mà Ban biên tập vừa đề cập ở trên chính là muốn nhắc đến cách nói hình tượng “Đứng trên vai người khổng lồ” hay “giọt nước hòa vào đại dương”. Ông bà ta biết rằng mình chỉ là một giọt nước nên quyết không để cho nó lẻ loi đến khi bị nắng nóng bốc hơi bằng cách tìm đến một đại dương bao la và hòa vào nó, để được tồn tại, hưởng được sức mạnh tổng thể của cả một đại dương mênh mông.
Cội nguồn sức mạnh của lịch sử văn hóa dân tộc chính là đại dương bao la hay người khổng lồ. Ngày xưa, học sử là việc học đầu tiên và quan trọng nhất của một kẻ sĩ (tạm hiểu là người có học, có tri thức). Hồi đó, ai cũng yêu thích và đam mê học sử, vì việc học sử đem lại liền nhiều lợi ích thiết thực. Học sử tức là học được tấm gương của người xưa, điều đó giúp mỗi kẻ sĩ như tổng hợp được sức mạnh tri thức của hàng trăm, hàng ngàn năm. Nếu thấy tấm gương tốt thì kẻ sĩ vụt tiến bộ ngay, nếu thấy tấm gương xấu sẽ biết tránh “vết xe đổ”. Người xưa đã phải bỏ thời gian, công sức và xương máu của nhiều đời mới đúc kết được một bài học. Vậy tại sao chúng ta không biết ứng dụng để khỏi phải tự mày mò và trả giá cho sự thiếu hiểu biết nhỉ?
Có lẽ một số bạn sẽ nghĩ rằng tại sao chúng ta phải uổng phí sức lực để học những thứ lạc hậu trong thời buổi hiện đại này? Suy nghĩ này có thể nói là ‘bé cái nhầm’ rồi đấy bạn àh. Bạn biết không, người xưa khi đến 18 tuổi đã được xem như một “ĐẠI NHÂN”, tức là người có thể gánh vác trọng trách lớn trong đời. Một người mới đôi mươi đã có thể làm chủ tướng thống lĩnh hàng vạn binh sĩ (như vị tướng trẻ TRẦN QUỐC TOẢN). Vai trò quản lý của người chủ tướng không đơn thuần là công việc quản lý như chúng ta hiểu ngày nay. Người giữ trọng trách chủ tướng phải biết cách làm sao cho trên dưới một lòng, xem tướng sĩ như cốt nhục, đánh đâu thắng đó, quyết định sự thành bại, sống chết của đoàn quân… Người chủ tướng làm được những điều đó là nhờ học và vận dụng “BINH PHÁP” của người xưa. Trong bộ truyện ANH HÙNG LĨNH NAM này, chúng ta sẽ tìm hiểu ĐÀO KỲ đã học và làm những gì để trở thành vị tướng trẻ tài ba bậc nhất thời Lĩnh Nam. Bên cạnh đó, chúng ta cũng sẽ biết được tại sao Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Nguyễn Trãi… những nhân vật cũng là con người bằng xương bằng thịt như chúng ta nhưng lại làm nên những chiến công hiển hách, tên tuổi của họ là bất tử. Tại sao họ lại làm được điều đó. Bởi vì họ biết đứng trên vai NGƯỜI KHỔNG LỒ VĂN HÓA DÂN TỘC.